1. Lịch sử hình thành:

Từ năm 1931 – 1953, chùa được sư tổ Thích Thanh Thao (hiệu là Tri Hải) khai sáng, tiếp đó là các bậc cao tăng thạc đức trụ trì tu sửa. Từ năm 1989 trở đi, nhờ Phật tổ gia độ và thập phương tín thí cúng giàng, ni sư Thích Diệu Yên trụ trì đã đại tu và tôn tạo lại chùa với không gian hiện nay.

  1. Vị trí địa lý:

Chùa toạ lạc tại 288 đường Trần Thành Ngọ, phường Trần Thành Ngọ, quận Kiến An, Hải Phòng.

  1. Nghệ thuật kiến trúc chùa Đại Giác:

Mặt tiền của chùa quay theo hướng Tây, nhìn ra đường Trần Thành Ngọ. Phía bên phải giáp núi, bên trái có sông Lạch Tray.

Tam quan: có hai tầng, tầng dưới có ba cửa, ở giữa là cửa chính, hai bên cửa nhỏ hơn và kích thước hai cửa này bằng nhau. Nhưng ở chùa Đại Giác, một bên cổng chùa đã bị xây bít lại. Trên chính giữa cổng Tam quan là biển ngạch có ghi tên chùa “Đại Giác tự”. Đồng thời hai bên có câu đối, thông thường đắp bằng xi măng, tạo nên sự trang nghiêm cổ kính và hàm ý văn hoá Phật giáo hướng thiện cho người bước vào Tam quan.

Qua Tam quan là đến sân chùa. Sân của nhiều chùa được bày đặt các chậu cảnh, hòn non bộ với mục đích làm tăng thêm cảnh sắc thiên nhiên cho ngôi chùa. Trong sân chùa, có các ngọn tháp được xây dựng ở đây. Đặc biệt ở sân chùa còn có nhà bia ghi chép lịch sử hình thành chùa và ghi tên những người công đức.

Bái đường: Từ dưới sân chùa, lớp kiến trúc đầu tiên của ngôi chùa là nhà bái đường (hay còn gọi là tiền đường, nhà thiêu hương). Tại đây có đặt chuông chùa (vì tam quan không xây gác chuông. Giữa bái đường là hương án, nơi thắp hương chính. Thông thường người đến lễ chùa thắp hương ở đây. Bái đường của chùa có 3 gian, gian thứ nhất là ban Đức Ông, Gian thứ ba là ban thánh tăng, ở giữa là 2 vị Hộ Pháp.

Tượng hộ pháp: Hai bên ở Bái đường đặt tượng hai vị Hộ pháp. Hai vị Hộ pháp là ý nghĩa khuyến thiện và trừng ác để hộ trì Phật pháp. Tượng Hộ pháp được tạc rất to, theo kiểu võ sĩ cổ, mình mặc áo giáp, đầu đội mũ, một vị tay cầm viên ngọc, một vị tay cầm binh khí, trong tư thế đứng trên lưng một con sân (một loại giống sư tử).

Tượng Thần Thổ Địa – Thánh Tăng. Một bên tượng thổ địa và một bên tượng Thánh tăng, lấy điển tích về cùng xuất hiện đồng thời chứng minh khi Đức Thích-ca vừa thành đạo. Trưởng giả Cấp-cô-độc, một nhân vật thời Thích-ca tại thế, đã mua một khu vườn cây xây tịnh xá, ngôi chùa rất to lớn đầu tiên trên thế giới, thỉnh Phật Thích-ca về thuyết pháp. Sau này ông được coi là người bảo vệ tài sản của nhà chùa. Vì vậy người ta gọi là Đức ông hay Đức chúa Già Lam Chầu Tể (thờ gian bên).

Chính điện: Qua nhà bái đường là chính điện. Giữa bái đường và chính điện có một khoảng trống không rộng lắm, để cho ánh sáng tự nhiên chiếu sáng. Nhà chính điện là phần quan trọng nhất của ngôi chùa vì nơi đây bày những pho tượng Phật chủ yếu của điện thờ Phật ở chùa Đại Giác nói riêng và các ngôi chùa ở Việt Nam nói chung.

Tượng A-di-đà Tam Tôn: Tượng còn được gọi là “Tây phương tam thánh” đặt ở hàng thứ hai từ trên xuống gồm: Phật A-di-đà (ngồi giữa) Đại Thế Chí (bên trái). Đây là 2 vị hộ pháp giúp việc cứu độ cho Phật A-di-đà. Quan Thế Âm (bên phải) với một số sắc tướng và danh hiệu khác Quan Thế Âm vô uý, Quan Thế Âm Nam Hải, Quan Thế Âm nghìn mắt nghìn tay, Phật bà Quan Âm. Phật A-di-đà là Phật được tạc to nhất trong các nhóm tượng. Phật A-di-đà được tạc trong tư thế toạ thiền, ngồi xếp bằng, hai tay đặt giữa lòng đùi, khuôn mặt đôn hậu, mắt nhìn xuống suy tư, miệng hơi mỉm cười.

Tượng Thích-ca Mâu-ni: Tượng đặt ở hàng thứ ba, chính giữa. Ở trong chùa, tượng Thích-ca Mâu-ni được tạc ở các tư thế thuộc các giai đoạn khác nhau:

Tượng Cửu Long (Thích-ca sơ sinh) tượng Thích-ca ở tư thế đã bước ra rồi đứng lại, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, có 9 con rồng uốn chầu xung quanh, tượng Cửu Long dựa vào Phật sử nói rằng, khi Thích-ca giáng sinh có 9 con rồng phun nước để tắm cho Ngài. Tắm xong Ngài tự đi 7 bước về phía trước, tay phải Ngài chỉ lên trời, tay trái Ngài chỉ thẳng xuống đất mà nói ngay được rằng “Thiên thượng, Thiên hạ, duy ngã độc tôn” (có nghĩa là trên trời, dưới đất, chỉ có “ta” là tôn quý) (Ta đây là “Đại ngã” bản tính Chân Như, không phải là Tiểu Ngã cá nhân riêng của mình, truyền tâm ấn). Hai bên tượng Cửu Long là hai tượng Đế Thích và Phạm Vương, chủ thể thế giới, nên tạc theo kiểu nhà vua ngồi trên ngai.

Tượng Tuyết Sơn diễn tả Thích-ca Mâu-ni trong thời kỳ tu khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn (núi rừng Ni-câu-luật) với thân hình gầy gò, chỉ có da bọc xương. Dân gian quen gọi là tượng “nhịn ăn để mặc”.

Nhà thờ mẫu: gian bên phải thờ Quan Vân Trường (bức tượng được người dân quyên góp). Bên trái thờ Đức Vua Bà tức Chiêu Trinh công chúa, bà là con gái của vua Trần Nhân Tông – người sáng lập ra thiền phái trúc lâm Yên Tử. Ở giữa là điện thờ Tam toà Thánh Mẫu gồm Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Sự kết hợp thờ Mẫu ở trong chùa thể hiện tín ngưỡng tiền Phật, hậu Thánh phổ biến ở các ngôi chùa ở Việt Nam.

Nhà thờ tổ: đối diện nhà thờ mẫu là nhà thờ tổ, là nơi thờ sư tổ Thích Thanh Thao và các vị sư trụ trì đã mất.