1. Lịch sử hình thành
  2. Đã từ lâu chùa Long Tiên đã được liệt vào hạng danh lam nổi tiếng của Thành phố Hạ Long:

    “Hạ Long có núi Bài Thơ

    Có hang Đầu Gỗ, có chùa Long Tiên”

    Chùa Long Tiên có tên chữ là “Long Tiên Tự”. Người xưa có câu “long tắc linh, danh tắc tiên” nghĩa là: thế đất hình rồng chắc chắn là đất thiêng, nơi có cảnh đẹp ắt hẳn là nơi tiên ở. Chùa Long Tiên chắc hẳn hàm chứa ý nghĩa về cái tên như vậy.

    Chùa được khởi dựng vào năm 1941, khi đất nước ta vẫn trong thời kỳ thuộc Pháp. Có lẽ người Pháp lúc bấy giờ muốn dùng tôn giáo để mị dân. Chính vì vậy, bỏ qua những nguyên tắc xây dựng theo thuật phong thủy truyền thống, chùa được xây dựng ngay trung tâm đô thị, gần khu vực dân cư sầm uất nhất thời bấy giờ. Chùa chính thức được hoàn thành vào ngày 11/6/1941. Trong thời kỳ kháng chiến chùa Long Tiên từng là nơi hoạt động của những cán bộ chiến sĩ cách mạng, phần nào phản ánh mối quan hệ “đạo – đời” của Phật giáo Việt Nam. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, mặc cho những biến cố chính trị, chùa đã trở thành trung tâm tôn giáo tín ngưỡng nhất của thành phố Hạ Long, là nơi để người dân bày tỏ lòng thành kính với Đức Phật và gửi gắm niềm ước vọng về một cuộc sống an lạc, tốt lành. Ngôi chùa hiện nay đã khang trang hơn trước rất nhiều, đây là kết quả của  đợt trùng tu và mở rộng, hoàn thiện vào đầu năm 2008, với sự đóng góp của tín đồ phật tử thập phương và đặc biệt là sự tâm huyết của những người trong Ban quản lí chùa Long Tiên.

    1. Vị trí địa lý

    Chùa nằm ở phía Bắc chân núi Bài Thơ, tọa lạc tại phố Long Tiên, ngay trung tâm thành phố Hạ Long, TP Quảng Ninh rất thuận tiện cho việc viếng thăm của du khách. Chùa được xây dưới chân núi Bài Thơ, lưng tựa vào núi nên có một phong cảnh thiên nhiên cực kỳ đẹp. Giữa phong cảnh nên thơ tuyệt đẹp như thế, kiến trúc của ngôi chùa càng được làm nổi bật hơn khiến ngôi chùa trở nên vô cùng độc đáo.

    1. Đối tượng thờ

    Chùa có chức năng chính là thờ Phật, ngoài ra còn thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo và thờ Mẫu, theo mô típ “tiền Phật, hậu thánh/tiền Phật hậu Mẫu” một đặc trưng thường thấy ở các ngôi chùa miền Bắc Việt Nam.

    1. Nghệ thuật kiến trúc (Chùa có lối kiến trúc cổ thời nhà Nguyễn)

    Chùa Long Tiên từ ngoài vào trong, có các hạng mục công trình: 1. Tam quan – gác chuông; 2. Sân chùa (sân trên, sân dưới); 3. Chùa chính được xây dựng hình chữ Đinh (J) gồm Bái đường (chùa hộ), thượng điện (ban thờ các chư Phật); 4. Nhà tổ (nơi thờ Trúc Lâm Tam Tổ, các vị la hán); 5. Nhà khách.

    Chữ “Long Tiên Tự” trên cửa tam quan được ghép bằng gốm.

    Tam quan – gác chuông được xây dựng kết hợp, dạng chồng diêm 3 tầng, gồm 3 cửa: Cửa “Hữu”, cửa “Vô”, cửa “Đại” thể hiện tư tưởng cái có “hữu”, cái không “vô”  của đạo Phật “sắc sắc, không không”. Nghĩa là: có mà lại là không, không mà lại là có. Mọi sự vật hiện tượng ta nhìn thấy sẽ chỉ như gió thoảng mây bay. Cuộc đời con người cũng vậy, so với thời gian vô cùng vô tận thì chúng ta tồn tại chỉ có giới hạn trong cái thế giới vô hạn. Nói theo cách khác thì tam quan cũng chính là thể hiện 3 quan điểm về cuộc đời, bao gồm: “không quan”, trung quan” và “giả quan”. Không quan là lối nhìn về cốt lõi chung của muôn loài, muôn vật, tức là nhìn về bản thể chân như (nhìn về nguồn gốc của mọi sự vật hiện tượng); Giả quan là lối nhìn thấy muôn loài muôn vật, có sinh ắt có diệt, nói về quy luật vô thường. Không có gì thuộc về thế giới “hình – danh – sắc – tướng” mà có thể tồn tại vĩnh hằng. Mọi vật mà ta nhìn thấy đều vận động biến đổi theo quy luật khách quan. Chính vì vậy, thứ mà ta nhìn thấy, ta có được đều là giả, là tạm thời, kể cả thân xác chúng ta; Trung quan là cách nhìn trí tuệ đi sâu vào ý nghĩa cứu cánh của đạo Phật, hiều sâu sắc về “không” và “giả” mà bước vào chính pháp. Vì lẽ đó mà chữ “không” trong đạo Phật vô cùng huyền diệu, chính vì vậy người hiểu được cái “không” của đạo Phật đã có thể trở thành Phật rồi.

    Gác chuông của chùa Long tiên nằm ở tầng 2 cổng tam quan. Chuông là loại pháp khí không thể thiếu được của mỗi ngôi chùa, bởi lẽ tiếng chuông mang ý nghĩa “thức tỉnh”. Giáo lý nhà Phật cho rằng:

    “Trời dùng tiếng sấm để thức tỉnh vạn vật

    Phật dùng tiếng chuông để thức tỉnh quần mê”

    Bước qua cổng tam quan là bước vào thế giới tôn nghiêm của đạo Phật. ở cổng tam quan chùa luôn có hai pho tượng đứng ở hai bên, dân gian thường gọi là Ông Thiện và Ông Ác. Ông Thiện tên đầy đủ là “Khuyến Thiện” có khuôn mặt nhân từ phúc hậu tay trong tư thế phổ độ chúng sinh. Ông Ác tên đầy đủ là “Trừ Ác” có khuôn mặt dữ hơn, chân trấn giữ con quỷ. Hai tượng này ngoài tam quan mang ý nghĩa khuyến khích làm việc thiện, loại trừ việc ác: Trong mỗi con người chúng ta luôn có hai mặt tốt và xấu, để trở thành con người hoàn thiện hơn người ta luôn phải phát huy mặt tốt và hạn chế mặt xấu. Khi đi lễ chùa, người ta thường vào cửa Ác và đi ra cửa Thiện với ý nghĩa loại bỏ những điều chưa tốt, những tham – sân – si… để khi vào chùa lễ Phật xong trở ra chúng ta sẽ trở lên tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn.  Đó cũng chính là lí do các tín đồ phật tử đi lễ chùa ngày rằm, mùng một hàng tháng, đây cũng là dịp để mỗi tín đồ phật tử nhắc nhở mình sống tốt hơn.

    Tầng trên cùng của tam quan chùa Long Tiên có tượng Quan Âm tọa thiền trên đài sen, đây là nguyên mẫu của vị Phật Bà mang màu sắc rất Việt Nam “Quan Âm Thị Kính” người hiện thân cho những đức tính cam chịu, nhưng cũng rât tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Người mà cả cuộc đời chịu những oan khiên nhưng cam chịu tất cả, chỉ khi về cõi Phật mọi việc mới được sang tỏ. Bởi vậy, dân gian có câu: “oan ra tam quan mà ngồi” là vì thế.

    Liền kề với tam quan là tượng Bồ Đề Đạt Ma trong tư thế tọa thiền. Tượng được đặt trên bục cao ngang bằng với mái của cửa phụ tam quan. Đây là vị tổ thứ 28 của Thiền tông Ấn Độ, ông đã truyền bá dòng thiền từ Ấn Độ qua Trung Quốc rồi dòng Thiền tiếp tục truyền bá đến Việt Nam. Thiền ở Việt Nam rất phát triển đặc biệt vào thời Trần, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – Thiền phái riêng của người Việt.

    Qua cổng tam quan là sân dưới chùa nơi có tượng Phật Bà Quan Âm Bồ Tát tay cầm bình nước cam lồ trong tư thế phổ độ chúng sinh. Phật bà khuôn mặt nhân từ như mẹ hiền che chở thấu hiểu những gian nan khó nhọc của chúng sinh và ra tay cứu giúp. Đây cũng chính là nơi để tín đồ phật tử dâng nén tâm nhang với đức mẹ Quan Âm.

    Qua sân dưới là sân trên của chùa, nơi phật tử dâng hương bái Phật. Ở sân trên chùa có bức tranh miêu tả về ngày đản sinh của Đức Phật Thích Ca: Tương truyền khi mới được sinh ra ngày đã tự bước đi được 7 bước, mỗi bước đi có đài sen nở nâng đỡ bước chân của ngài, Đến bước thứ 7 ngài chỉ một tay lên trời, một tay chỉ xuống đất nói rằng “Thượng thiên địa hạ, duy ngã độc tôn” nghĩa là: trên trời dưới đất, chỉ có ta là tôn quý nhất.