1. Vị trí cảnh quan

Đình Hổ Bái Trang tại xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, từ xưa đã là 1 trong những địa bàn cư trú quan trong của người dân Việt cổ. Ngày này, Kiền Bái là 1 xã nông nghiệp trù phú của huyện Thủy Nguyên nằm ở hạ lưu sông Kiền, cách trung tâm thành phố Hải phòng khoảng 7km về phía Tây Bắc, cách trung tâm huyện Thủy Nguyên 2km về phía Tây, phía Đông Bắc của xã là di chỉ Núi Đèo – nơi các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra vết tích của văn hóa Đông Sơn.

  1. Lược sử di tích

Theo bản thần tích hiện còn lưu giữ tại Đình do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1571 thì đình Kiền Bái thờ vị thần Đào Lôi Công làm thành hoàng làng. Đào Lôi Công là người đã có công giúp ba đời vua Lý thế kỷ XI ( Lý Thái Tổ, Lý Thái Tôn, Lý Thái Tông) trị vì đát nước, giữu yên bờ cõi. Ngoài ra Đình còn thờ một vị Thành hoàng nữa là Đức thánh cả Bích- Ngọc đại Vương, người có công khai hoang, chiêu mộ dân lập ấp để tạo lên vùng Hổ Bái Trang-Kiền Bái ngày nay. Hằng năm hội đình được mở vào ngày 10,11,12 tháng 11- là 1 nét sinh hoạt văn hóa dân gian rất đặc biệt nó thẻ hiện đời sống tinh thần phong phú, truyền thống đạo lý cao đẹp của người dân nơi đây. Người ta cũng đặt thành câu ca để nhắc đến hội làng

Làng Kền ( Kiền ) có lễ cây bông

Rước lên Dọc Muống hội đồng giao quan

Mười một đánh bài giao quan

Mười hai tế yến thì chàng phải sang…

  1. Niên đại và qúa trình tồn tại, phát triển của di tích

Đình Hổ bái Trang được khởi công xây dựng vào thời Lê Hy Tông, niên hiệu Chính Hòa thứ 6 (năm 1685). Đến nay, sau hơn 300 năm tồn tại, ngôi đình vẫn thường xuyên được quan tâm tu bổ như 1 niềm tự hào của người dân địa phương. Đình được tu sửa vào TK XVIII thể hiện bằng những mảng chạm đao mác mang đặc trưng phong cách nghệ thuật nửa sau TK XVIII hiện còn ở các xà đùi cốn chồng Rường, vì hồi sau bên trái.Đình được sửa chữa lớn vào ngày 6 tháng 9 năm Tự Đức 12 (năm Kỷ Mùi- 1859). Sản phẩm của lần sửa chữa này là bức cốn phái trước, bên phải gian giữa mang đề tài Rồng ổ và Rồng ở đây mang đặc trưng phong cách nghệ thuật thời Nguyễn TK XIX. Đình tiếp tục được tu sửa vào mùa hạ năm Bảo Đại 12 ( năm 1937). Năm 1993 đình được tu sửa và ngày 1 tháng 4 năm 2004 đình Kiền Bái được Nhà nước cấp kinh phí trùng tu đến ngày 10 tháng 11 năm 2006 khánh thành. Năm 2002, nhân dân địa phương cũng đãcho xây cổng, tường bao ngăn cách khuôn viên của đình với bên ngoài.

  1. Kiến trúc

Đình Kiền Bái có kiến trúc quy mô vừa phải, kiến trúc hoàn toàn bằn gỗ lim, có mặt bằng hình chữ ‘đinh’ quen thuộc và là ngôi đình duy nhất ở hải Phòng còn giữ được hệ thống ván sàn từ thời khởi dựng. Đình Kiền Bái được dựng quay hương Nam, phía trước của Đình là tỉnh lộ 478 và có một con lạch nhỏ thông nước với sông Kiền ( có tên là Ngòi Mai). Như vậy đình Kiền Bái được dựng hướng thẳng về phía Ngòi Mai và ta thấy yếu tố trọng thủy trong việc chọn thế đất dựng đình. Đình Kiền Bái có bố cục mặt bằng hình chữ nhật, gồm ba gian hai chái, có liên kết khung gỗ bởi ccacs chốt mộng khí, có các cột cái, cột quân bằng gỗ đứng trên tảng, bộ vì nóc gian giữa kết cấu kiểu chồng rường, bộ vì nóc gian bên kiểu kẻ suốt. Trên cột cái, vì xà chính ghi năm tạo dựng 1681 và tên những người đóng góp công đức. Đây là công trình kiến trúc điêu khắc tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc thời Lê còn lại ở Hải Phòng. Điểm nổi bật của đề tài trang trí trên công trình kiến trúc nghệ thuật này là bên cạnh hình ảnh rồng, phượng, hoa lá cách điệu, tia lửa, lưỡi mác … còn thấy rất nhiều cảnh sinh hoạt dân gian rất tự nhiên sinh đọng. Đó là hình rồng nối đuôi nhau, trước mặt rồng có nhiêu con thú 4 chân leo trèo trong đám vây rồng, có mảng hình rồng đan xem với thú 4 chân như thằn lằn, voi , ngựa, lợn ăn lá dáy, có mảng là cảnh sinh hoạt hình em bé chăn trâu ngồi vắt vẻo trên mình trâu… Nghệ thuật trang trí ở đình Kiền Bái chủ yếu được tập trung thể hiện trên các vị trí có điều kiệu phô diễn được vẻ đẹp của mình. Rồng là đề tài phổ biến và có mật độ khá dày đặc trong các hoạt cảnh trang trí.

Ở mỗi mảng chạm khắc dù là chạm nổi hay chạm lộng hay chạm bong kênh, bong hình thì giữa trung tâm bao giờ cũng là một rồng lớn (rồng mẹ) có thân mập, ngắn lượn từ dưới lên, đầu ngóc cao, mặt quay ra ngoài.

Rồng có đầu to, trán dô, miệng há rộng, mũi sư tử và tóc là các cụm đao lửa hình mũi mác bay về sau tạo cảm giác động trong không gian tĩnh.

Thân rồng tròn lẳn phủ một lớp vảy rắn nổi, chân có bốn móng sắc nhọn như cựa gà chọi. Chung quanh rồng mẹ dù đang vuốt râu hay hí thủy, có rất nhiều rồng con trong một tổng số lẻ như: 5, 7, 9, 11 và 13.

Đi kèm với rồng là những con vật trong hàng tứ linh như phượng, lân. Phượng thường được thể hiện trong tư thế trình diễn nghệ thuật “gia truyền” với những động tác múa uyển chuyển và kiêu sa.

Con rồng không chỉ được thể hiện cùng đồng loại hay các bậc tứ linh mà nó còn hòa mình với các con thú khác không phải là con vật “linh” ở trên các vì cốn hay mặt ngoài các ván bưng. Đó là những con thú “tầm thường” nhưng rất đỗi thân quen với làng quê và con người Việt Nam, như lợn, chó, dê, nai, mèo, cá… nhiều nhất vẫn là lợn.

Lợn có thân hình mập mạp như trong tranh Đông Hồ nhưng lại nghịch ngợm như các chú lợn rừng hoang dã. Lợn ngồi trên lưng nắm râu, cầm tóc và còn cả gan gặm chặt lấy đuôi rồng.

Du khách đã quen với các cảnh “lưỡng long chầu nguyệt”, “lưỡng long tranh châu”… nhưng “lưỡng long chầu lợn” và “rồng chầu người” chắc chỉ ở đình Kiền Bái mới có. Ngoài ra, đình còn có những tiểu cảnh đậm vẻ làng quê yên bình như lợn ăn lá dáy, mèo ngủ ngày, người cưỡi voi, ngựa voi âu yếm, voi chiến đua tài…

Hệ mái đình có 4 mái, lập ngói mũi hài, hoành mái có tiết diện vuông, trên mái bố trí các con giống. Hậu cung được nối vuông với toàn tiền tế tại vị trí gian giữa, chiều ngang bằng chiều rộng gian giữa tiền tế, chiều dài 8,3m. Hậu cung có kết cấu tương tự toàn Tiền tế.